BẢN TIN & ĐÀO TẠO
TÀI TRỢ DỰ ÁN


NGÀNH CHẾ BIẾN THỰC PHẨM
Cập nhật: Thứ tư, 18/07/2007, 16:03 GMT+7
Khái quát về ngành công nghiệp chế biến thực phẩm

Nhu cầu sử dụng các sản thực phẩm trong nước

Ngành chế biến thực phẩm Việt Nam đang phát triển mạnh. Những thành tựu phát triển kinh tế xã hội của đất nước sau 20 năm đổi mới tác động tích cực tới nhu cầu đời sống của nhân dân. Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm đang có cơ hội to lớn về thị trường. ở trong nước, nhu cầu tiêu dùng của người dân đối với thực phẩm chế biến ngày càng lớn và đa dạng. Thói quen sử dụng các thực phẩm chế biến từ thịt, cá, rau quả, gạo... đã hình thành và phát triển nhanh. Việt Nam cũng đã đạt được nhiều thành tựu trong việc xuất khẩu các sản phẩm chế biến như gạo, tôm, cá, cà phê, chè.... Việc Việt Nam tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN và trở thành thành viên của WTO đã thúc đẩy xuất khẩu nói chung và xuất khẩu nông sản, thuỷ sản chế biến nói riêng.

Chế biến thực phẩm là ngành công nghiệp lớn, đa dạng với nhiều ngành hàng. Tuy nhiên, từ góc độ của một Dự án nhằm vào mục tiêu khuyến khích các DNNVV sử dụng hiệu quả năng lượng, những ngành hàng sau đây cần được chú ý:

a.        Ngành chế biến thuỷ sản

b.       Ngành sản xuất bia

 

Ngành chế biến thuỷ sản

Tình hình phát triển và vai trò của ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản

Nước Việt Nam có bờ biển dài và nhiều ao, hồ. Các ngành nuôi trồng thuỷ sản, đánh cá, chế biến thuỷ sản phát triển nhanh trong những năm qua, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế.

Tổng sản lượng thủy sản năm  2005: 3.432.800 tấn [Niên giám Thống kê, 2005];

Tổng sản lượng thủy sản chế biến xuất khẩu năm  2005: 705.759 tấn [Bộ Thuỷ sản,  2006].

Ngành thuỷ sản tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Hiện cả nước có 113.899 lao động đang làm việc trong ngành thuỷ sản và có trên 235 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản [Bộ thủy sản, 2006].

Phân bố của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản

Doanh nghiệp chế biến thuỷ sản phân bố trong cả nước. Tuy nhiên, do những ưu thế về điều kiện tự nhiên đã hình thành một số vùng trọng điểm có nhiều doanh nghiệp và đông đảo lực lượng lao động làm việc trong ngành thuỷ sản.

Đồng bằng sông Cửu Long với các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Cà Mau, Sóc Trăng, An Giang,

Miền Đông Nam Bộ với các tỉnh, thành phố: Tp. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu,

Miền Duyên hải Nam Trung Bộ với các tỉnh, thành phố: Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Bình Thuận, Bình Định,

Vùng Bắc Trung Bộ với các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,

Vùng Đồng bằng sông Hồng với các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định.

Ngành thuỷ sản với vấn đề sử dụng hiệu quả năng lượng

Các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản sử dụng nhiều năng lượng trong các công đoạn sản xuất đá, làm lạnh, bảo quản, hấp, sấy. Mức độ lãng phí trong sử dụng năng lượng khá cao.


Quy hoạch phát triển ngành thuỷ sản tới năm 2010 [
Bộ Thuỷ sản, 2006]

Mục tiêu

Phát triển ngành thuỷ sản thành một ngành sản xuất hàng hoá lớn với sức cạnh tranh cao, đạt kim ngạch xuất khẩu lớn. Phấn đấu giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tăng với tốc độ bình quân 10,6%/năm, tới năm  2010 sản lượng thuỷ sản xuất khẩu đạt 891.000 tấn.

Quan điểm

a) Về công nghệ 

-          Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, lựa chọn và tiếp nhận công nghệ chế biến tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng, sản lượng và giá trị sản phẩm thuỷ sản;

-          Tăng cường đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật trong các cơ sở chế biến thuỷ sản để có đủ năng lực ứng dụng khoa học kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến vào sản xuất;

-          áp dụng các biện pháp công nghệ chế biến, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm.

b) Về quy mô sản xuất

-          Nâng cấp đồng bộ về cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, trang thiết bị của các cơ sở chế biến hiện có để nâng cao công suất cấp đông;

-          Hình thành các trung tâm nghề cá lớn gắn với khu công nghiệp chế biến công nghệ cao,thu hút khối lượng lớn nguyên liệu thuỷ sản, tạo sản phẩm có chất lượng cao, xây dựng thương hiệu sản phẩm;

c) Về quy hoạch

-          Vùng Đồng bằng sông Hồng, miền Đông Nam Bộ: Nâng cấp các nhà máy chế biến hiện có, xây dựng các cơ sở hậu cần dịch vụ nghề cá, và dịch vụ chế biến thuỷ sản;

-          Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung: Nâng cấp các doanh nghiệp chế biến hiện có, phát triển thêm một số nhà máy mới có công nghệ hiện đại đạt tiêu chuẩn về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm theo tiêu chuẩn Việt nam và quốc tế.

d) Về đầu tư

-          Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư đổi mới công nghệ chế biến, xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá;

-          Khuyến khích các ngân hàng thương mại tham gia đầu tư trực tiếp phát triển công nghiệp chế biến thuỷ sản;

-          Mở rộng liên doanh giữa các doanh nghiệp chế biến trong nước và với nhà đầu tư nước ngoài nhằm tăng nguồn lực về vốn và công nghệ chế biến thuỷ sản.

 

Ngành sản xuất bia

Tình hình phát triển và vai trò của ngành công nghiệp đối với nền kinh tế

Trong mười năm gần đây, đời sống nhân dân được cải thiện, lượng khách du lịch tăng cao. Tình hình trên đã thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất bia.

Liên tục trong nhiều năm ngành công nghiệp này đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 10 %/năm.

Trước đây chỉ có 02 nhà máy bia (nhà máy bia Sài Gòn và Hà Nội), nay đã có 469 cơ sở sản xuất.

 Sản lượng toàn ngành [Niên giám Thống kê, 2005]:

-          Năm 2000: 779,1triệu lít, trong đó doanh nghiệp ngoài quốc doanh sản xuất 41,7 triệu lít;

-          Năm 2005: 1.427 triệu lít, trong đó doanh nghiệp ngoài quốc doanh sản xuất  207,7 triệu lít.

Ngành sản xuất bia đóng góp đáng kể cho quá trình phát triển kinh tế, thu hút nhiều lao động. Mỗi năm ngành đảm bảo việc làm ổn định cho khoảng 20.000 lao động và hàng vạn lao động khác tham gia vào các hoạt động cung ứng vật tư, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm.

Phân bố của các doanh nghiệp sản xuất bia

Các cơ sở sản xuất bia phân bố rộng khắp cả nước. Hai nhà máy sản xuất bia lớn nhất là Nhà máy bia Sài Gòn và Nhà máy bia Hà Nội sử dụng hết công suất và đang tiếp tục mở rộng.

Các doanh nghiệp sản xuất bia phát triển mạnh như các Công ty Bia Hải Dương, Quảng Ninh, Hà Tây, Thái Bình, Bắc Giang, Huế.

Khu vực kinh tế tư nhân đầu tư hơn 400 cơ sở sản xuất bia.

Ngành sản xuất bia với vấn đề sử dụng hiệu quả năng lượng

Các cơ sở sản xuất bia sử dụng khối lượng lớn các loại năng lượng: điện, than, dầu DO, dầu FO cho các công đoạn làm lạnh, lên men, hấp khử trùng. Mức độ lãng phí trong sử dụng năng lượng cao.

 

Quy hoạch phát triển ngành sản xuất rượu bia, nước giải khát tới năm 2010 [Thủ tướng Chính phủ, 2003]

Mục tiêu

Xây dựng ngành sản xuất bia thành một ngành kinh tế mạnh. Sử dụng tối đa nguyên liệu trong nước để phát triển sản xuất các sản phẩm chất lượng cao, đa dạng hoá về chủng loại, nâng cao khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu trong nước và có sản phẩm xuất khẩu. Tới năm 2010 sản lượng bia đạt 1.500 triệu lít.

Quan điểm

 a) Về công nghệ

 Hiện đại hoá công nghệ, từng bước thay thế công nghệ, thiết bị hiện có bằng công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại của thế giới, đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, môi trường theo quy định của Việt Nam và quốc tế để sản phẩm có khả năng cạnh tranh ngày càng cao trên thị trường trong và ngoài nước.

b) Về quy mô, quy hoạch

Tổng công ty Rượu- Bia- Nước giải khát Hà nội và Tổng công ty Rượu- Bia – Nước giải khát Sài Gòn vươn lên giữ vai trò chủ chốt trong sản xuất các loại bia, nâng cao uy tín thương hiệu bia Việt Nam, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Tập trung đầu tư các nhà máy bia công suất lớn, đổi mới công nghệ, thiết bị sản xuất bia chất lượng cao; quản lý chặt chẽ về vệ sinh an toàn thực phẩm. Hợp tác, liên doanh với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để sản xuất một số loại bia chất lượng cao từ nguyên liệu trong nước, thay thế nhập khẩu.

Thực hiện đúng giấy phép đầu tư đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sản xuất đủ công suất thiết kế. Trong những năm tới, chưa cấp phép thành lập mới hoặc tăng sản lượng của doanh nghiệp đã được cấp phép.

 

Trang inGửi cho bạn bèÝ kiến của bạn?Thông tin thảo luận.
Thông tin khác:
Copyright @2008 PECSME
Chuyên trang tin tức sự kiện của website do Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia thực hiện
Địa chỉ: 24 Lý Thường Kiệt, Hà Nội
Tel: (84.4) 3934 9920, Email: gdttcn@vista.gov.vnvie01g41.vn@undppartners.org
Đầu trang